PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ THỰC PHẨM TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Phan Phương Tần[1]
Đăng tại Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Số 4(447) – 2026, ISSN 0866 - 7446
Tóm tắt: Thất thoát và lãng phí thực phẩm là một vấn đề vô cùng nhức nhối của nền kinh tế tiêu dùng ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu nhằm chứng minh mối liên hệ giữa chính sách phát triển kinh tế tuần hoàn và hoạt động chống thất thoát và lãng phí thực phẩm, từ đó cho thấy lổ hổng pháp lý của Việt Nam về chống thất thoát và lãng phí thực phẩm là một cản trở trong mắc xích thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Abstract: Food loss and waste has become a serious and widespread problem in a consumer-driven economy in all countries around the world. This study aims to demonstrate the relationship between circular economy policies and efforts to prevent food waste. It argues that existing legal gaps in Vietnam’s framework on food loss and waste prevention may hinder the effective promotion of a circular economy. The study also proposes recommendations to improve Vietnamese law on this matter.
Từ khóa: phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, thất thoát và lãng phí thực phẩm.
1. Mối liên hệ giữa chống lãng phí thực phẩm và phát triển kinh tế tuần hoàn
Mỗi giai đoạn phát triển của văn minh nhân loại đều gắn liền với những hình thái kinh tế khác nhau. Kể từ tác phẩm “Sự giàu có của các quốc gia” của Adam Smith được xuất bản lần đầu vào năm 1776,[2] một khoản thời gian rất dài nhiều quốc gia lớn có cùng niềm tin và quan điểm cho rằng phát triển nền kinh tế công nghiệp là con đường vững chắc và hợp lý để xây dựng quốc gia vữa mạnh. Nhưng từ cuối thế kỷ XX, khi nhân loại bước vào một giai đoạn mới, đối diện với những vấn đề cấp thiết như cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, thảm họa môi trường, biến đổi khí hậu, hệ lụy của kinh tế công nghiệp phát triển quá nhanh, hay cuộc cách mạng 4.0
[3], kinh tế học hiện đại đã xuất hiện khái niệm về một mô hình kinh tế mới, gọi là mô hình kinh tế tuần hoàn (“
KTTH”).
Kinh tế Tuần hoàn (Circular Economy) lần đầu được đề cập một cách chính thức trong nghiên cứu của David W. Pearce và R. Kerry Turner năm 1990.[4] Trong tác phẩm của mình, hai tác giả đã nhấn mạnh tác động qua lại cũng như mối quan hệ nhân quả giữa phát triển kinh tế và môi trường. Từ đó, giới thiệu mô hình KTTH, đối lập với nền kinh tế công nghiệp truyền thống mang tính tuyến tính (linear system).
Nếu như mô hình kinh tế tuyến tính, ở đó các yếu tố môi trường như tài nguyên (R-Resources), lãng phí (W - Waste) bị bỏ qua, phát triển dựa trên dòng chảy một chiều của vật chất và năng lượng, đi từ Sản xuất (Production), đến Sản phẩm (Goods), và đích cuối cùng là Lợi ích (Utility).[5] Trái lại, Pearce và Turner
đưa trở lại hàm Lợi ích vào dòng tiêu dùng (C) trong mô hình KTTH, nhấn mạnh 03 chức năng kinh tế của môi trường, bao gồm là nguồn cung tài nguyên, là nơi hấp thụ chất thải, và là nguồn mang lại lợi ích trực tiếp. Họ gọi là mô hình này là mô hình cân bằng vật chất (materials balance model) vì tất cả đều có giá trị kinh tế dương.[6]
[1] TS., Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh. Email: tannpp@uef.edu.vn
[2] Smith, Adam (1789), An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations. 5th ed. 3 vols. London: T. Cadell.
[3] Tan, Jovan, Fabien Jianwei Tan, and Seeram Ramakrishna (2022), Transitioning to a Circular Economy: A Systematic Review of Its Drivers and Barriers, Sustainability 14, no. 3: 1757. https://doi.org/10.3390/su14031757
[4] Pearce, D.W. and R.K. Turner (1990), Economics of Natural Resources and the Environment, Hemel Hempstead: Harvester Wheatsheaf, tr.39.
[5] Pearce, D.W. and R.K. Turner (1990), Economics of Natural Resources and the Environment, tlđd., tr. 35.
[6] Pearce, D.W. and R.K. Turner (1990), Economics of Natural Resources and the Environment, tlđd., tr. 41.